Sunday, November 30, 2014
Friday, November 28, 2014
Viết về: Một Cánh Chim Đầu Đàn
VIẾT VỀ:
MỘT CÁNH CHIM ĐẦU ĐÀN
NIÊN TRƯỞNG NGUYỄN PHÚC TỬNG
KQ:NGUYỄN VIẾT TRƯỜNG
Những ngày đầu Phi đoàn 116 về
đồn trú tại Cần Thơ thuộc vùng IV chiến thuật, hầu hết anh em Phi hành đều còn
độc thân vui tính, số 9 đường Phan đình Phùng chính là tổ ấm của những chàng “ăn cơm dưới đất, nói chuyện
trên Trời”
Những ngày mới chân ướt chân ráo về đây, nói
cho ngay, anh em chúng tôi còn “ngây ngô…Nhưng lại vô số tội”, ngây ngô vì còn
trai trẻ lại độc thân nên kinh nghiệm đời còn non nớt quá, tuy vậy lại vô số
tội vì “các em gái hậu phương” tấn công quá “chời”, nên trở thành bay bướm, lả
lướt lúc nào không biết nữa! Ôi thủa ấy cái hiện tượng “muốn là chiều” của những
chàng “lắm túi nhiều phẹc ma tuya” đã làm
những bậc cha mẹ có con gái quen “dân tàu bay” giật mình thon thót…
Hồi đó đa số những “chức sắc”
trong Phi đoàn vì có gia đình rồi, nên ngoài những giờ hành chánh thật khó có
thể thấy mặt họ, tuy nhiên nếu có chuyện gì xảy ra là họ vẫn sẵn sàng “có mặt
trên tầng cây số” liền …
Tình đồng đội mỗi ngày một khắng
khít thêm lên, đời chiến binh trong thời loạn không ai biết trước được phận
mình sẽ ra sao, mỗi lần cất cánh, xông pha giữa lằn tên mũi đạn, là biết được
sự sống và sự chết chỉ trong gang tấc, nên chúng tôi càng ngày càng dễ tha thứ
cho nhau hơn và theo thời gian cũng trở nên thắm thiết gần gũi nhau hơn…
Do sự phân công của Bộ tư Lệnh,
cánh chim đầu đàn đầu tiên của chúng tôi là niên trưởng Nguyễn Phúc Tửng đã
chuyển công tác lên làm Liên đoàn trưởng Liên đoàn tác chiến, nhiệm vụ Chỉ huy Trưởng
trao lại cho niên trưởng Bùi quang Kinh, khi niên trưởng Kinh về làm việc trên
Bộ Tư lệnh Không Quân tại Tân sơn nhứt, thì niên trưởng Nguyễn văn Chín về thay
thế, tiếp đến, khi niên trưởng Chín lên làm Tham mưu Phó hành quân trên Sư đoàn
IV Không Quân, thì niên trưởng Nguyễn đức Gia trở thành cánh chim đầu đàn thứ
tư của Phi đoàn 116, thời gian sau, niên trưởng Gia đi học Tham mưu ở Long Bình,
niên trưởng Bùi thanh Sử đã trở thành cánh chim đầu đàn cuối cùng của Phi đoàn
chúng tôi cho đến ngày miền Nam bị cưỡng chiếm…
Cuộc sống quân ngũ của chúng tôi
ở Phi đoàn 116, thật may mắn là có được 05 vị đơn vị trưởng tốt, vẫn biết nhân
vô thập toàn, nhưng nhìn chung 05 vị này cho đến nay vẫn là những gì chân quý
mỗi khi chúng tôi nói đến bất cứ ai trong họ.
Trong phạm vi bài viết này, xin
cho tôi được nói ít nhiều về niên trưởng Nguyễn phúc Tửng.
Nói đến niên trưởng Nguyễn phúc
Tửng là nói đến một con người trực tính, nóng tính, nhưng rất tốt bụng, anh em
thường kháo nhau:
Niên
trưởng chính là người tiếng nói đi trước người thật theo sau…
Tuy được phong chức, làm lớn hơn,
nhưng niên trưởng vẫn thường ghé qua thăm anh em chúng tôi, thấy ai hư là mắng,
ai sai là la, không bao giờ giận ai lâu chuyện gì, niên trưởng là người năng
động và khẳng khái, luôn được chúng tôi kính nể…
Mọi người đều nhớ, chung sống với
anh em chúng tôi khoảng trên dưới một năm, thì niên trưởng lên làm việc trên Bộ
Tư lệnh Sư Đoàn, rồi chuyển sang bay máy bay vận tải loại lớn cho Air Việt Nam,
đường bay quốc ngoại, trên loại máy bay 727. Và sau ngày 30 tháng 04 năm 1975
niên trưởng sang sinh sống tại Pháp.
Ngày Hội ngộ Phi đoàn 116 được tổ
chức ở miền Bắc CaLi, tại tư gia của niên trưởng Bùi thanh Sử, chúng tôi thật
mừng vui vô hạn, có ai ngờ đâu sau bao nhiêu đổi thay của cuộc sống, chúng tôi
còn được gặp lại toàn bộ các vị đơn vị trưởng của mình (ngoại trừ niên trưởng
Bùi quang Kinh đã mất trong lao tù Cộng Sản sau năm 1975)
Sức khỏe mọi người theo thời gian
đã đổi thay thật nhiều, hầu hết tóc đã điểm sương, có người đầu bạc trắng, có
người mái tóc chỉ còn lưa thưa…Đời đá vàng đã khiến cho hoàn cảnh mỗi người mỗi
khác, nhưng có một điều thật hạnh phúc là tình chiến hữu của mọi thành viên
trong Phi đoàn 116 khi xưa vẫn “hừng hực” chói lòa trong cuộc sống hiện nay,
nơi đất khách quê người…
Chúng tôi ngồi quây quần bên nhau
trong ngôi nhà rộng lớn khang trang và “hiện đại” của niên trưởng Bùi thanh Sử,
tình bằng hữu, huynh đệ keo sơn ngày nào đã có, sao bây giờ như khắng khít,
thâm tình hơn xưa.
Niên trưởng Nguyễn phúc Tửng đã
không quản ngại đường xá xa xôi, cách trở, sức khỏe hạn chế vẫn thắm tình nặng
nghĩa với mọi người…Một mình từ Pháp sang Mỹ để dự ngày Hội ngộ Phi Đoàn 116
với chúng tôi, sự hiện diện bằng xương bằng thịt chung vui, hòa đồng cùng anh
em của niên trưởng, khiến ai ai cũng ngưỡng mộ, chúng tôi thật súc động lúc
niên trưởng bắt đầu bày tỏ cảm tưởng của mình với mọi người, lời nói pha lẫn
những giọt lệ lưng tròng của niên trưởng khiến bản thân tôi sao như thấy nghèn
nghẹn trong tim…
Tâm tình của một người đàn anh,
của một vị thày, của một bậc tiền bối…Với những lời lẽ thật nhất, chí khí nhất,
nghe sao nức lòng người đến thế…Chẳng riêng gì tôi, anh em ai cũng im nghe và thẩm thấu tâm can.
……………………………………………………………..
Tôi vẫn còn nhớ, vào một tối, khi
mở máy điện toán để xem có ai gửi email cho mình không? Tôi thật ngạc nhiên
khi nhận được email của anh Nghiêm xuân Sương với nội dung muốn cho mọi người
trong Phi đoàn biết một tin có liên quan đến cánh chim đầu đàn đầu tiên của Phi
đoàn 116 , e.mail có kèm theo hình ảnh minh chứng,
Qua đó, tôi nhận biết và thấy được niên trưởng
Nguyễn phúc Tửng, tuổi đời tuy đã quá cao, vẫn hiên ngang đứng trước đám đông Cộng
đồng người Việt sinh sống tại Pháp tay cầm micro đang hô hào mọi người tẩy chay
sự hiện diện của nhân vật đại diện cho nhà nước Việt Cộng là Nguyễn tấn Dũng,
và lên án chế độ ác nhân ác đức của nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay…
Di ảnh Niên trưởng Nguyễn Phúc Tửng
Nhìn hình tôi tự nghĩ, với cách
ăn mặc của mọi người trong hình, thì thời tiết chắc đang giá lạnh, chưa một lần
đặt chân đến nước Pháp, nên tôi không hiểu cái lạnh của Pháp có bằng cái lạnh ở
Mỹ này không? Nhưng với tuổi của niên trưởng Tửng chỉ có tinh thần yêu nước cao
độ mới khiến ông hiện diện trước đám đông trong khí hậu như vầy!
Một tay cầm Micro, một tay cầm
bức hình Cha Lý đang bị một tên công an mặc thường phục đứng đằng sau lưng bịt
miệng ngay trước vành móng ngựa, lại có hai bên là hai tên công an mặc sắc phục
kìm kẹp… Nếu có ai nhìn hình chắc cũng đều phải ngả nón khâm phục một lão tiền
bối uy nghi quắc thước này đang làm một việc có ích cho đời, có lợi cho quốc
gia dân tộc?!
Còn chúng tôi? Những thành viên
của Phi Đoàn 116 khi xưa, chắc chắn ai cũng đều hãnh diện vô ngần về hành động
yêu nước thương nòi của một vị Chỉ huy Trưởng khi xưa của mình!
Tôi muốn viết, muốn ngợi ca,
người anh cả của Phi Đoàn tôi thật nhiều, thật nhiều hơn nữa…Nhưng sao lại cảm
thấy chắc chẳng có bút nào kể cho xiết về hành động cao quý của người anh cả này!…
Niên trưởng Nguyễn phúc Tửng ơi?
Cánh chim đầu đàn của chúng tôi
ơi?
Xin niên trưởng hiểu cho rằng
chúng tôi đang hợp đoàn bay theo niên Trưởng đó!
Bầu Trời xanh cao và trong sáng
đang chào đón những cánh chim Thần ưng một lòng yêu non sông tổ quốc Việt Nam
ta đấy niên Trưởng ạ!…
Tôi bỗng nhớ lại, câu nói của một
cánh chim đầu đàn khác của chúng tôi, tôi muốn nói đến niên trưởng Nguyễn đức
Gia, vị Phi đoàn Trưởng thứ tư của Phi đoàn 116, trong ngày họp mặt với một số
anh chị em Thần ưng, vào ngày 07 tháng 10 năm 2007 tại tư gia của niên trưởng:
“Sau năm 1975, chúng ta phải bỏ nước ra đi, nhưng thật sự chúng ta đã
thắng, bởi vì nhờ có tháng tư đen của năm 1975, mà dân chúng miền Bắc mới “sáng
mắt sáng lòng”, cuộc sống nhờ văn minh ngoại nhập nên họ mới thoát ra khỏi cảnh
u mê cuồng trí, đã đến lúc dân chúng trong và ngoài nước Việt, hiểu được sự tàn
ác, dã man, vô nhân đạo, đầy lật lọng của tập thể lãnh đạo Cộng sản Việt Nam…Sẽ
có tin vui trong tương lai gần, đất nước Việt Nam là của người Việt Nam chân
chính, chứ không phải của riêng ai, hay một tập đoàn thống trị tàn bạo nào cả!”
Vâng, dân tộc Việt Nam ta vốn sẵn
có một tấm lòng:
“Lấy trí nhân mà thay cường bạo,
đem đại nghĩa để thắng hung tàn” như lời trung thần Nguyễn Trãi nói…Nên chắc
chắn nước nhà sẽ có một ngày:
Yên vui, hạnh phúc, thịnh vượng, với hòa
bình tự do và dân chủ trên non sông gấm
hoa này….
Đêm nay, trong cảnh tĩnh mịch của
đêm trường, thời gian dần sáng, một ngày mới đang sắp rộ mở…Nghĩ về niên trưởng
Nguyễn phúc Tửng, về gia đình Thần ưng, lòng tôi sao thấy rộn ràng một niềm vui
vô tả đến thế!
Hạnh phúc không mong mà có, không
muốn mà được, đang hiện hữu quanh ta mỗi giây mỗi phút trong đời, điều quan
trọng là chính ta phải tự tạo nên mà có…Càng nghĩ càng thấy chí lý thay!
Và lúc này đây tôi thật sự đang hạnh phúc!!!
Đời “Ốp-xẹc”
Đời “Ốp-xẹc”
Lê-văn-Sùng
Giấc
mộng trở thành phi công đã ăn sâu vào tim óc tôi lúc nào không biết, có
lẽ nhân vật Phượng của Toàn-Phong đã quyến rũ tôi khi tôi còn mài đũng
quần ở trường trung học Sa-Đéc. Một cậu bé nhà quê, sau khi đọc cuốn
“Đời Phi-Công” lại mơ trở thành phi-công, mà phải lái máy bay khu-trục
mới hách. Nên khi vừa giật được mãnh bằng tú-tài, tôi cùng thằng bạn nối
khố tình nguyện vào Không-Quân ngay. Nó cũng mê được lái máy bay như
tôi vậy.
Thằng
bạn tôi vào khám sức khỏe một lèo, trót lọt hết, vào khóa 65D. Đi du
học Hoa-Kỳ về lái máy bay vận-tải. Giấc mộng phi-công của nó đã thành
hiện thực thật trọn vẹn. Cuộc đời bay bổng của nó thăng hoa tột đỉnh,
trưởng biệt đội AC119. Đó là SVSQ Nguyễn-thành-Ấm, có nickname là “Ấm
sứt vòi”.
Còn
tôi, cao 1m76, nặng 68kg, quá lý tưởng cho tiêu chuẩn một phi công, nên
tôi vào phòng cân đo rất tự tin. Tôi thấy tội nghiệp cho một vài người
bạn khám chung toán, trước khi vào cân phải ăn vội cả ổ bánh mì, nốc một
bụng nước cho đủ 50kg. Có đứa không đủ chiều cao, lấy cục nhựa đường
gắn lên đỉnh đầu, phủ mái tóc dầy lên cho đủ 1m60. Tiếp theo vào đến
khám mắt, đọc đến hàng 9A thì tôi không còn phân biệt được chữ O hay chữ
C, chữ E hay chữ F… nên bị trung-sĩ Giỏi loại ngay.
Từ
đó tôi tái khám đi, tái khám lại mãi cũng không vào Không-Quân được.
Cuối cùng tôi phải chạy “pít-tông” từ Bộ Tư Lệnh mới được vào khoá 65F
Quan sát viên. Nhận được giấy gia nhập Quan sát viên, không là hoa-tiêu
như các bạn khác, tôi cầm giấy lại hỏi một vị Thiếu-Úy, mặc đồ bay rất
đẹp trai, mang bảng tên “KIỂM”:
- Thưa Thiếu úy, tôi được học Quan sát viên là sao hả Thiếu úy?
Ông đáp ngay:
- Đó là “ốp xẹc”! “Ốp xẹc” thì nham nhở lắm, ráng bay nhiều giờ để được chuyển sang hoa tiêu.
Hơn gần năm mươi năm qua tôi vẫn nhớ nguyên văn lời Thiếu úy Kiểm. Từ đó tôi rất dị ứng với
từ “ốp xẹc”. Tôi xin mở dấu ngoặc ở đây, Thiếu úy Kiểm mà tôi gặp lần
đầu ấy, là anh ruột của Phạm hữu Ân khoá 65E (bạn đồng niên khóa chúng
tôi). Sau này, tôi nghe lời ông, khi ra trường, năm 1967, ráng bay thật
nhiều giờ, liều mạng kiếm được rất nhiều huy chương, nhưng mãi đến năm
1972, trên 4000 giờ bay, phải vượt qua mặt rất nhiều đàn anh để đi học
khoá hoa tiêu đặc biệt. Cơ duyên run rủi, đúng Thiếu úy Kiểm ngày xưa,
nay là Thiếu Tá Huấn luyện viên, và tôi-thằng lính mới “ốp xẹc” ngày
xưa, nay là Đại úy Quan sát viên, dày dạn lửa đạn chiến trường, về Trung
tâm huấn luyện Không quân Nha-trang làm một trong những học trò của
ông, khi mãn khoá được Tướng Chỉ huy trưởng Trung tâm gắn cánh bay
thủ-khoa, chắc cũng làm ông hãnh-diện.
Trong
cuộc đời làm Quan sát viên, biết bao kỷ niệm, vinh-quang cũng có mà
đắng cay cũng nhiều. Hai lần được Bộ-Tư-Lệnh Không-Quân chọn làm
chiến-sĩ xuất-sắc, được tưởng thưởng cho đi du-hành ngoại-quốc, đổi lại
biết bao nhiêu lần thoát chết trong đường tơ kẻ tóc, cuối cùng cái giá
phải trả là 8 năm lao động khổ sai ở miền thượng du Bắc Việt, cộng thêm 5
năm tù vượt biên, mà trong đó hơn ba năm rưỡi bị nhốt trong phòng
kỷ-luật, chân bị cùm, ăn uống, vệ sinh tại chỗ, mỗi tuần được tắm 5
phút. Tôi có ước nguyện khi về hưu, tôi sẽ viết về những ngày tháng khó
quên này.
Trong
khuôn khổ hạn hẹp của quyển Đặc san, tôi xin ghi lại vài trang kỷ niệm,
kỷ-niệm những lần chiến bại (bại binh chi tướng bất khả ngôn dũng).
Những lần chiến bại đau thương nầy đã ăn sâu vào ký ức tôi, tôi luôn
sống trong quá khứ, tôi tiếc nuối thời gian tôi ngày ngày được ve vuốt,
được ấp yêu chiếc L19 nhỏ bé thuộc Phi-Đoàn 116 Quan-Sát.
“Bất hứa nhân-gian kiến bạch đầu”
Tháng
Hai năm 1968, tôi được cắt đi biệt-phái Kiên-Giang (tỉnh Rạch-Giá) với
Trung-Úy Nguyễn-văn-Thành (khóa 63 D). Anh Thành có nickname “Chú Tư
Cầu” vì trước nhà anh ở trong cư-xá Thanh-Điệp có trồng một hàng cây
trâm bầu cho mát, anh đem ván gỗ về đóng mấy cái bàn thấp, để cuối tháng
anh em biệt phái các nơi bay về Cần-Thơ họp. Chúng tôi, những bạn thân
của anh họp ở phòng Hành-Quân xong là tập trung xuống nhà anh, chúng tôi
thường mua những món đặc-sản của nơi mình biệt phái mang về, anh Thành
sẽ đích thân chế biến, nấu nướng những món nhậu thật ngon hết sẩy. Những
bạn nào không có đặc-sản mang về thì lên Câu-lạc-bộ mua bia xuống, anh
em quay quần uống bia tán gẩu thật vui sau những ngày bay biệt phái hành
quân căng thẳng.
Chúng
tôi gọi nơi đây là “Rặng Trâm Bầu”, nên chủ nhà phải mang tên “Chú Tư
Cầu” cho đúng với nhân-vật của nhà-văn Lê-Xuyên. Anh Thành vui tánh, hay
nói chuyện tếu rất có duyên. Đến ngày mất nước, anh mang cấp bậc
Thiếu-Tá đã lâu, anh phải đi tù miền Bắc, khi được thả về không bao lâu
thì anh mất, chúng tôi rất đau buồn, bây giờ mỗi lần họp mặt Phi-Đoàn,
chúng tôi thường nhắc đến những kỷ-niệm ở “Rặng Trâm Bầu” đầy nhớ nhung
luyến tiếc.
Nhắc
lại chuyện đi biệt phái Rạch-Giá với anh, cũng là một kỷ-niệm lớn trong
đời tôi. Chúng tôi đi biệt phái thường Tiểu-khu-Trưởng cho chúng tôi ở
trong cư-xá Tiểu-Khu, họăc có những nơi cho chúng tôi ở khách-sạn như
Bạc-Liêu, Vĩnh-Bình v.v…Đặc biệt, phi-hành-đoàn biệt phái Rạch-Giá lại
được ở nhà Bác Tám. Bác trai là một đại-điền-chủ ngày xưa, bây giờ Bác
là Dân-Biểu, làm việc trong tòa nhà Quốc-Hội ở Sài Gòn, Bác gái vẫn ở
lại Rạch-Giá, gìn giưữ cơ ngơi của Ông Bà để lại. Bác gái rất vui-vẻ,
tử-tế, nhà Bác là một lâu-đài đồ-sộ, tôi không biết phi-đoàn 116 gắn bó
với gia-đình bác tự thuở nào, mà sao bác lại thương chúng tôi như con,
ăn ở nhà bác, chẳng bao giờ bác lấy tiền đứa nào. Bác nấu cơm tháng cho
hàng nhiều chục người đến ăn. Không biết vì cơm bác nấu ngon, hay vì ba
cô con gái bác đẹp, xinh mà đông thực khách? Cô chị lớn góa chồng, hai
cô em còn đang đi học trường Trung Học Nguyễn-trung-Trực. Cô nào cũng
xinh như mộng, cư-xử với chúng tôi như anh em trong nhà.
Anh
Thành có vợ con, và có nhà trong cư-xá Không-Đoàn, khi bay xong, chiều
nào anh cũng bay về Cần-Thơ, lấy lý do phi-cơ đậu lại phi-trường
Lạc-Hồng ban đêm không an-toàn. Mấy ngày đầu, chiều nào tôi cũng theo
anh Thành về Cần Thơ, để đêm đêm chạy ra hầm trú ẩn, vì lúc ấy VC pháo
kích phi-trường dữ dội lắm. Bác Tám gái bảo tôi:
-
Thằng Thành (vì bác coi chúng tôi như con cái trong nhà, nên thường gọi
chúng tôi bằng “thằng” như gọi con của bác vậy) có vợ, nó về Cần-Thơ là
phải, con về làm chi cho bị pháo-kích, ở ngủ lại đây đi, nhà rộng quá
mà ít người, mấy em con nó sợ.
Bác
bảo người nhà dọn một phòng cho tôi ngủ trên lầu, cạnh hai phòng của
hai cô tiểu thơ nhà bác. Chiều chiều Thành bay về Cần-Thơ, tôi ở lại một
mình cũng buồn, nên hai cô, khi thì rủ tôi chở hai cô chạy vòng vòng
chơi ngoài phố, hoặc chở hai cô ra phi-trường Rạch-Sỏi tập bắn súng. Thú
thật lúc đó tôi chưa có người yêu, nên có hơi xao-xuyến với cô em, vì
cô có khuôn mặt trái xoan và đôi mắt đen lay láy giống một nàng thơ của
tôi, thuở tôi mới bắt đầu biết mơ mộng.
Ngủ
lại Rạch-Giá chỉ được vài ba đêm, tôi lại nhớ bạn-bè ở Phi-Đoàn, nhất
là nhớ “mạt-chược” (còn gọi là bài chim của Tàu, chơi rất thú-vị) không
sao chịu được, nên mỗi chiều tôi lại về Cần-Thơ. Sau lần biệt-phái ấy,
trong phi-đoàn nhiều người nghĩ tôi đã phải lòng cô em, vì tháng sau tôi
lại tình-nguyện xin đi biệt phái Rạch-Giá nữa. Họ đâu có biết rằng tôi
xin đi Rạch-Giá để được ăn cơm “free”, vì lương tháng vừa lãnh ra, đã
nướng sạch sau một đêm kéo phé cùng Nguyễn-văn-Hưởng (khóa 65 B) và
Nguyễn-lãng-Uy (khóa 65 E).
Lần
đi biệt-phái nầy chúng tôi phải bay liên-tục, vì có nhiều cuộc
hành-quân lớn của Liên-Đoàn Biệt-Động-Quân do Đại-Tá Sơn-Thương chỉ-huy.
Anh Cao-minh-Rạng khóa 63 D, bay cùng tôi mệt quá nên miệng cứ “địt cụ”
hoài vì mới vừa đáp xuống đổ xăng là có lịnh bay tiếp yểm-trợ cho quân
bạn đang chạm địch. Nhiều phi-hành-đoàn trực thăng thuộc phi-đoàn 211
xuống Rạch-Giá đổ quân. Chúng tôi cũng đưa những anh em 211 nầy vào nhà
Bác Tám ăn cơm, Không-Quân thì bác vẫn không nhận tiền. Trong ấy có vài
anh vừa gặp cô em là bị hớp hồn ngay, trong đó có anh Th., anh Th. thú
thật với tôi:
- Moa vừa gặp cô ấy là bị coup de foudre ngay đó Toa, phải cô ấy là bồ của Toa không? Thật xứng đôi vừa lứa quá.
Đáng tội nghiệp nhất là Trần-quốc-Trung (Khóa 65 D), Trung cứ theo tôi hỏi mãi:
-
Mầy có thật sự muốn cưới cô em không? Nếu là bồ mầy, mầy chưa có ý định
cưới thì nhường cho tao nhé, tao giới thiệu em gái tao cho mầy, em gái
tao đẹp lắm, hoa-khôi của Trưng-Vương đấy.
Tôi nói thật với Trung:
-
Tao chỉ mới có cảm tình thôi, phi-đoàn tao có vài tên đang rắp ranh bắn
sẻ đấy, nhưng tụi nó còn đang “nhợn” tao, nếu mầy thương dữ dội thì cứ
tấn công đi, còn ngượng gì nửa, tao sẽ rút lui. Nhớ đừng quên cho tao
làm em rể nhé.
Trung mừng quá, tấn công tới tấp, khoảng một tháng sau,Trung gặp tôi ở câu lạc bộ Sư-Đoàn, Trung đưa ngón tay cái lên:
- Xong rồi, cám ơn mầy, tao đã làm đơn xin cưới nàng, mầy làm rể phụ giúp tao nhé.
Tôi nói:
- Chúc mừng cho mầy.
Nhưng
hỡi ơi! Hạnh-phúc chưa được mấy ngày, thì Trung bị bắn rớt ở Sóc-Trăng
trong một phi-vụ tải thương đêm, Trung chết ngay trong phòng lái. Tội
nghiệp thay, một thằng bạn đẹp trai, vui-vẻ, dễ thương của khóa 65 D.
“Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”
Thuở
ấy mặt trận Bình-Long càng ngày càng khốc liệt. Quân ta, dưới sự chỉ
huy anh dũng của Chuẩn Tướng Lê văn Hưng, nhất định tử thủ An Lộc, thà
chết không đầu hàng. Cộng Sản Bắc Việt dồn hết lực lượng, chia thành
nhiều mũi tấn công, chúng hạ quyết tâm bằng mọi giá, phải dứt điểm An
Lộc. Sau một thời gian dài, chúng đã gây cho quân ta tổn thất nặng nề.
Bao nhiêu tử sĩ hy sinh không được chôn cất, bao nhiêu thương binh không
được đưa về Quân y viện chăm sóc. Bị thương dù nặng hay nhẹ, cũng chỉ
được y tá và các chiến hữu chăm sóc tại chỗ, với phương tiện cứu thương
eo hẹp dần.
Nguy
khốn cho quân ta nhất là vũ khí, đạn dược cạn kiệt không được tiếp tế
hữu hiệu, lương thực đã đến mức báo động từ lâu. Phải tử thủ trong tình
trạng tuyệt vọng như thế, mỗi phút trôi qua là một phút mỏi mòn chờ cứu
viện. Bộ Tổng Tham Mưu đã quyết định cứu An Lộc, giải tỏa Bình Long, nên
đã tung nhiều đơn vị thiện chiến vào chiến trường: Sư đoàn 5 Bộ Binh,
Biệt Động Quân, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù và tăng cường thêm hai Sư
Đoàn lừng danh của vùng Bốn Chiến Thuật, đó là Sư Đoàn 21 và Sư Đoàn 9
Bộ Binh.
Phi
đoàn 116 của chúng tôi ở Cần Thơ, cũng được tăng cường cho Phi đoàn 112
Biên Hòa ba phi hành đoàn, để hằng ngày thi hành một số phi vụ do Phi
doàn 112 sắp xếp, hầu hết là được giao cho những phi vụ bay cho mặt trận
Bình Long, thỉnh thoảng được một ngày ”xả hơi” là yểm trợ cho các Tiểu
khu khác như: Long Khánh, Long An, Phước Long…, thuộc Vùng Ba Chiến
Thuật.
Phi
đoàn 116 của chúng tôi xưa nay có truyền thống đi biệt phái xa thường
cắt những hoa tiêu nhiều kinh nghiệm, và những quan sát viên dày
dạn chiến trường, không bao giờ đưa những cánh chim non vào các vùng
đầy phòng không 37 ly và SA7 ấy. Tôi còn nhớ rõ, ngày 15 tháng 5 năm
1972, tôi đi Biên Hòa biệt phái cùng Thiếu tá Trần công Thành (64B) và
hai phi hành đoàn khác tôi không nhớ rõ tên. Nhưng tôi chắc chắn một
điều không có ai là Trung úy, chỉ có Đại úy và Thiếu tá. Đến Biên Hòa,
chúng tôi vào trình diện Trưởng phòng hành quân của phi đoàn 112 là
Thiếu tá Lê tấn Phương. Anh là bạn thân của tôi, lúc trước anh từ miền
Trung đổi về Phi đoàn 116, anh và tôi thường đi biệt phái chung với nhau
như cặp bài trùng. Vừa gặp chúng tôi, Phương cười ngất hỏi:
- Phi đoàn 116 sao lại đưa toàn cù lũ chĩa lên tăng phái vậy?
Thành đáp:
- Biệt phái cho các anh, chúng tôi phải tuyển toàn gà chiến đó.
Phương nói:
- Ưu tiên cho mấy ông. Ngày mai ai muốn bay cho Tiểu khu nào tùy ý chọn.
Tôi đáp:
- Chúng tôi biệt phái lên đây tùy mấy “sếp” cắt đâu bay đó thôi.
Phương cười nói:
- Vậy là Bình Long mút chỉ đó!
Lúc
ấy tôi không biết anh nói đùa hay nói thật. Đến hết kỳ biệt phái, tôi
mới biết là anh không đùa. Chúng tôi được đưa đến một “trailer” không
máy lạnh, kiếng cửa sổ đã mất. Cũng may tôi có mang theo mùng, không thì
tối hôm đó muỗi Biên Hòa tha hồ hút máu dân Cần Thơ mới lên. Chiều hôm
ấy trời thật ảm đạm, chưa kịp thả xuống mấy cái quán ở khu gia binh ăn
cơm, thì trời đổ mưa lớn. Đến nhá nhem tối trời mới bắt đầu tạnh dần.
Ngồi nhìn mưa rơi rả rít ngoài trời, tôi chợt nhớ đến vợ tôi, nàng đang
mang thai đứa con đầu lòng sắp đến ngày sanh. Tự nhiên tôi có cảm giác
rờn rợn, lo sợ vẩn vơ. Vì trong Không Quân, những đứa thường kề cận cái
chết như chúng tôi, thường tin có điềm xui cho những thằng mới lấy vợ,
hoặc vợ sắp sanh mà phải đi biệt phái xa như tôi. Mai đây tôi lại phải
bay vào nơi dầu sôi lửa bỏng nầy, tự nhiên tôi thấy “lạnh cẳng”. Nếu có
ai đó biết được tâm trạng lo sợ của tôi lúc ấy mà gọi tôi bằng nickname
“S. combat”, chắc tôi quê lắm.
Đang
ngồi mơ màng tư lự, chợt trước cửa “trailer” có một người bất ngờ xuất
hiện. Người nầy mặc áo mưa, có mũ trùm đầu cẩn thận. Tôi hơi giật mình
vì sự xuất hiện đột ngột của anh ta, anh ấy đi vào đề ngay:
- Mấy anh ở Cần Thơ lên, có anh nào thích xoa mạt chược không?
Câu hỏi đúng ngay chỗ ngứa của tôi. Tôi mừng quá đáp ngay:
- Tôi, nhưng xoa ở đâu?
Anh ấy đáp:
- Chơi ở nhà tôi, bên kia, tôi là Thiếu tá Minh.
Anh đưa tay chỉ ngôi nhà có bức tường lớn, xa xa, tôi thấy mờ mờ trong mưa. Tôi đáp:
- Tôi chưa ăn cơm, để tôi và bạn tôi đi ăn cơm về rồi sẽ qua.
Anh Minh giục:
- Qua nhà tôi ăn cơm, mời bạn anh luôn. Anh ấy biết chơi mạt chược không?
Thành
vì không chơi mạt chược nên từ chối và bảo tôi đi chơi đi, anh sẽ xuống
tiệm ăn cơm và về ngủ sớm, mai đi bay. Tôi đi với anh Minh và hỏi thăm
còn những ai xoa với tôi nữa, anh đáp:
-
Có Trung tá Nhã và Thiếu tá Vũ đang sẳn sàng, lúc nào cũng có ba anh em
chúng tôi, còn mấy tay khác tối về Sài Gòn hết. Trên nầy khó kiếm đủ
bốn tay lắm.
Đến
nhà anh, mới bước chân vào phòng khách, tôi đã thấy ngay bàn mạt chược
nằm chình ình ra đó. (Tôi thường ngầm cám ơn các chú BaTàu đã ban cho
tôi trò chơi lý thú nầy, ngoài dáng ngồi chơi thật sang trọng, thoải
mái, còn là nghề tay trái của tôi để kiếm cơm, sau những lần bị 52 lá
bài Tây quật cho cháy túi). Anh Minh hối người nhà dọn cơm cho tôi ăn,
và hối hả quay điện thoại gọi hai anh Nhã và Vũ đến. Anh nói luôn cho
tôi biết, anh Nhã là Tham mưa phó Hành Quân Sư đoàn 3 KQ, và anh Vũ là
Phi đoàn trưởng phi đoàn phản lực F5. Từ ấy, cứ mỗi chiều tối tôi đi bay
về, là anh Minh gọi tôi qua nhà anh hoặc sang nhà anh Vũ ăn cơm, và xoa
hai hội, đến mấy giờ cùng phải nghỉ. Chúng tôi giao ước với nhau giới
hạn chỉ hai hội thôi, vì ngày mai ai cũng phải đi bay.
Trở
lại việc biệt phái Biên Hoà, đúng như lời anh Phương trưởng phòng hành
quân phi đoàn 112 đã nói, chúng tôi “được” bay cho Bình Long mút chỉ.
Ngày nào cũng cất cánh trực chỉ Lai Khê, nhận lịnh và bay thẳng lên An
Lộc. Khi thì hướng dẫn khu trục oanh tạc mục tiêu, khi thì điều chỉnh
pháo binh, khi phải đi tìm một vài cánh quân thất lạc không biết vị trí.
Bay ở vùng nầy khó nhận định vị trí chính xác lắm, toàn là rừng cao su,
mà địch và ta có khi ở thế cài răng lược, đánh lạng quạng vào quân bạn
là “ủ tờ” như chơi! Mặt khác, vị trí quân bạn lại rất khó tìm. Họ chỉ
trải panô màu cho phi cơ nhận điểm đứng của họ, tuyệt đối họ không bao
giờ thả khói màu như những chiến trường khác, vì ở đây, khói màu sẽ là
mục tiêu cho Việt cộng pháo kích, mà VC mỗi lần pháo là hằng trăm hằng
ngàn quả chứ không ít!
Riêng
về phi cơ quan sát của chúng tôi thì VC ít dám bắn, vì chúng sợ lộ mục
tiêu. Nhưng khi phi tuần khu trục đến rồi, một trái khói được chúng tôi
bắn xuống đánh dấu mục tiêu nơi oanh kích, thì phòng không bắn lên như
mưa. Những viên đạn 37 ly nổ bụp bụp trên không xung quanh chúng tôi,
thấy nhột nhột lành lạnh xương sống.
Ở
vùng Bốn, chúng tôi khi bay hành quân cao độ lý tưởng là từ 1500 đến
2000 bộ, những khi cần khám phá những hầm hố của VC, chúng tôi thường
xuống thấp hơn, có khi phải nhử cho VC bắn, cho phi cơ lao xuống thật
thấp, làm low-pass sát ngọn cây dọc theo sông rạch, hoặc bay sát mặt
nước theo những con kinh thẳng tắp, quan sát viên ngồi phiá sau, bỏ
helmet ra, thò hai tay đã cầm sẵn hai qủa lựu đạn khói màu ra hai bên
cửa sỗ, khi nghe tiếng đạn VC bắn nổ chát chúa sát bên tai, là thả lựu
đạn khói, xong chúng tôi cho phi cơ vút thẳng lên cao. Sau đó những
thằng VC bắn phi cơ ấy sẽ được đáp lễ bằng những bom dập, pháo vùi.
Tôi
học lối nhử VC nầy từ chú Tư Cầu (nickname của Nguyễn văn Thành khóa
63D), khi đi biệt phái cùng chú hồi Tết Mậu Thân ở Rạch Giá. Sau nầy tôi
truyền nghề lại cho Ngô minh Trải, Dương hồng Vệ, Trần hữu An, Liêu văn
Điều… những hoa tiêu trẻ, vì những hoa tiêu trẻ mới chịu nghe theo lời
xúi bậy của mấy lão “ốp xẹc” già, chứ hoa tiêu già đâu có dại mà đùa với
tử thần như thế. Bây giờ ngồi viết lại những dòng nầy, tôi mới nghĩ,
tại sao lúc ấy mình lại hăng say đến độ ngu ngốc đến thế. Có lẽ vì tôi
tin tưởng ở số mạng. Tôi có người cậu ruột, là một nghệ sĩ tài hoa lại
là một nhà tướng số nổi tiếng, (Nguyễn thành Ấm biết ông ấy). Ông cho
tôi biết “Đời mầy nhiều gian truân nhưng thọ lắm.”
Quả
đúng như thế, đến nay đã trên sáu bó, qua khỏi tuổi hưởng dương rồi. Vì
trong không quân ta dễ “chết non” lắm. Tướng Tư Lệnh nói “Phi công
chúng mình tuổi đời thì ít mà tuổi thọ thì dài” vì hằng ngày đùa với cái
chết, mà vẫn còn sống tới tuổi nầy coi như đã thọ lắm rồi.
Trở
lại bài học nhử cho VC bắn, phi đoàn chúng tôi có Đại úy Nguyễn tấn
Trào, chỉ huy phó phi đoàn đã bị bắn chết ở Cà Mau, Trần văn Sơn (65D)
và Trần hoa Văn (1/66 QS) đã bị bắn chết ở Vĩnh Bình. Thê thảm nhất là
một đàn em thân yêu của tôi: Liêu văn Điều. Anh đã hy sinh ở Sầm Giang
(tỉnh Định Tường-Mỹ Tho), cùng với Nguyễn ngọc Đạm (3/65 QS). Hai anh đã
bay sát ngọn cây ở sông Sầm Giang để nhử VC, không may cho hai anh, gặp
phải thằng bắn đại liên “chó ngáp phải ruồi”, nó bắn rớt hai anh đúng
vào ngày ký Hiệp Định Paris. Bọn VC ở đây chúng áp dụng phương châm:
Cồng cộc (khu trục) lên thẳng (trực thăng) còn tha,
Bà Già (quan sát) giết hết lột da, chặt đầu.
Chúng
chặt đầu hai anh, dùng hai cây tre cắm đầu hai anh ngoài cửa sông, dưới
treo tấm bảng “Hai tên giặc lái đã đền tội” (đúng là dã man hơn thời
Trung cổ). Không biết xác anh Đạm có bị lột da không? Còn xác anh Điều
được gia đình, nhờ người môi giới nạp cho chúng một số tiền chuộc rất
lớn, chúng mới để cho gia đình mang về chôn cất, còn cái đầu chúng vẩn
không trả lại.
Trở
lại việc đi bay ở An Lộc, làm sao dám bay thấp như ở Vùng Bốn, bay cao
bốn, năm ngàn bộ, có khi phòng không bắn rát quá, phải lên cao hơn. Có
một hôm, tôi được bay đánh tại thị trấn An Lộc, gần nơi tử thủ của Tướng
Hưng. Ông liên lạc trực tiếp với tôi để chỉ điểm những mục tiêu phải
đánh. Tôi báo cho ông biết, chúng tôi là Phi đoàn 116 ở Cần Thơ lên. Ông
rất mừng khi gặp lại chúng tôi trên máy, vì lúc ông làm Trung đoàn
Trưởng Trung đoàn 31 Bộ Binh đóng tại Vị Thanh, ông rất thương chúng
tôi. Phi hành đoàn nào biệt phái cho ông cũng được ông đãi ăn cơm cùng
với ông ở Câu lạc bộ trung đoàn. Ngoài ra mỗi em còn được một gói thuốc lá bỏ túi nữa. Hôm đó ông yêu cầu được đánh rất gần hầm chỉ huy của ông. Việt cộng đã bám sát bên ông rồi! Tôi trấn an ông:
- Alpha yên chí, rất nhiều đơn vị thiện chiến của mình đã đến gần Alpha, họ sắp bắt tay được với Alpha rồi đó.
Ông
rất vui, ông hứa ngày gặp lại ông sẽ có quà cho chúng tôi. Quả nhiên
sau nầy, ông vẫn còn nhớ lời hứa hôm đó, tặng chúng tôi mỗi đứa một sợi
dây đeo súng làm kỷ niệm.
Lần
biệt phái nầy để lại tôi một kỷ niệm vô cùng đau buồn. Một hôm, chúng
tôi đã thi hành xong phi vụ ở phía Nam An Lộc, tôi đã dẫn đánh bốn phi
tuần, Thành đã bắn hết 6 quả rocket khói đánh dấu mục tiêu rồi, phi cơ
chúng tôi phải bay thẳng về Cần Thơ kiểm kỳ, đổi máy bay khác. Trên
đường Thành bay về, phải chi tôi điềm nhiên tận hưởng cái khoan khoái
của người quan sát viên là tha hồ ngủ hoặc nghe nhạc trên đường hoa tiêu
bay về, dưỡng sức để tối nay còn xuống nhà Quan Bịnh (63D), xoa mạt
chược thì đã yên rồi, chuyện đau buồn này sẽ không xảy ra. Không hiểu
sao hôm đó tôi lại không ngủ, tôi lại thò đầu ra ngoài cửa sổ, nhìn
xuống Quốc lộ 13, đếm thử xem, có bao nhiêu chiếc xe của ta và của dân
thường đã bị địch bắn cháy, nằm dài theo tử lộ kinh hoàng ấy. Trong nghề
quan sát, thường chúng tôi hay nhìn sau đuôi phi cơ, vì địch mỗi khi
thấy phi cơ chúng thường nấp xuống, chờ phi cơ bay qua khỏi rồi mới di
chuyển hoặc chạy, hoặc bò. Quả nhiên tôi nhìn ra phía sau, bổng phát
hiện mấy chiếc thiết giáp, chạy chui xuống gầm cầu đường rầy xe lửa. Tôi
vội bảo Thành:
- Anh Thành buông cần lái cho tôi vòng lại đây một chút!
Thành hỏi:
- Gì đó?
Tôi bay vòng lại và đáp:
- Có mấy chiếc thiết vận xa.
Thành nói:
-Kế bên Tân Khai, chắc là quân bạn.
Tôi đáp:
- Quân bạn sao nó thấy mình lại chui xuống gầm cầu. Để tôi liên lạc hỏi thử xem.
Tôi
liên lạc được Trung đoàn đóng tại Tân Khai, xin tầng số cánh quân đầu
phía Nam của họ. Đó là một Tiểu đoàn của Sư đoàn 21 bộ binh. Tôi xin gặp
Alpha của tiểu đoàn, tôi đọc tọa độ chiến xa xuất hiện để anh xác định.
Anh ta thét lên:
-
Việt cộng đó, tụi nó đến gần tôi vậy sao? Anh làm ơn gọi phi tuần đánh
giúp tôi, không thì tối nay chúng nó sẽ tấn công bọn tôi ngay. Con cái
tôi bị ghẻ lở nhiều quá rồi (ý nói lính của anh đã bị thương nhiều rồi),
mấy hôm nay chưa tản (tức tản thương) được. (Tản thương, lúc ấy trực
thăng tản thương rất khó đáp, vừa đáp là VC pháo kích liên hồi, hoặc vừa
sà xuống thấp là phòng không bắn như mưa, trực thăng rớt trên ấy nhiều
lắm). Tôi nghe xót xa trong lòng và quyết định diệt mấy chiếc tăng nầy
mới được. Tôi gọi ngay Bộ chỉ huy báo cáo tình hình và xin phi tuần đển
đánh. Thành nói:
- Mình gần hết xăng rồi anh, mà còn phải về Cần Thơ nữa!
Tôi nói:
-
Không sao, mình đánh vài phi tuần rồi về Mộc Hóa đáp đổ xăng cũng được.
(Bay lên trời hoặc vào vùng hành quân quyền đánh hay không là do quan
sát viên quyết định và chịu hoàn toàn trách nhiệm).
Tôi
gọi Trung tâm Hành quân Không trợ 3 (ASOC3) xin phi tuần ngay, trong
khi chờ kết quả, tôi gọi pháo binh ở Tân Khai, chấm tọa độ mục tiêu bắn
liền. Tôi chấm thêm ba tọa độ, gọi quân bạn cho biết, nếu đêm có bị tấn
công hoặc có gì nghi ngờ thì bắn vào ba hỏa tập ấy. Tôi mới bắn được vài
chục quả 105 ly, đã nghe trên tầng số UHF có tiếng khu trục gọi đúng
danh hiệu tôi, cùng lúc đó ASOC3 cũng gọi cho tôi biết tôi có hai phi
tuần. Phi tuần thứ nhất, danh hiệu Phoenix 51, số phi vụ… đang có trên
tầng số, và phi tuần thứ hai, danh hiệu Phoenix 61, số phi vụ…. còn 10
phút nữa sẽ cất cánh, tôi đáp:
-Cám ơn bạn tôi đã nghe Phoenix 51 đang gọi tôi.
Có lẽ nghe rõ cuộc liên lạc giữa tôi và ASOC 3, nên khu trục gọi tôi ngay:
- Sơn Ca 23, bạn cho tôi biết tọa độ mục tiêu.
Tôi đáp nhanh:
- Phiá Nam An Lộc khoảng 10 km. Tôi đang đợi bạn trên mục tiêu. Xin cho tôi biết số phi vụ và trang bị cùa bạn.
- Chúng tôi có hai phi cơ A1, số phi vụ…, trang bị gồm 16 bom nổ 500 và đại bác 20 mm, 10 phút nữa sẽ đến bạn.
- Xin cho biết thời gian bạn có thể ở trên vùng?
- Khoảng 30 phút.
Thì
ra phi tuần nầy được điều động đi đánh chỗ khác, với F.A.C Mỹ nhưng vì
F.A.C gần hết xăng không đánh được, đang tìm mục tiêu giải tõa bom đạn
trước khi về đáp, thời may gặp tôi đang xin, nên bay đến ngay, thật
khoái vô cùng. A1 mang bom nhiều lại đánh rất chính xác. Tôi bắt đầu làm
việc theo phương thức:
-
Mục tiêu của bạn là mấy chiếc tăng tôi vừa phát hiện. Quân bạn gần nhất
ở về hướng Bắc khoảng 1 km, mỗi chiếc mang 8 trái, các anh đánh giùm
tôi 4 pass, được không?
- O.K. Bốn pass.
Tôi
nghĩ thầm, phi tuần nầy chịu chơi, đánh mỗi lần hai quả, A1 ở lâu trên
vùng mà không nhột. Có những phi tuần xin đánh hai pass thôi, có khi
“hot” quá, xin salvo một lần là hết bom. Tôi nói tiếp:
- Trục đánh từ Tây sang Đông, break trái, về hướng Bắc có quân bạn, khẩn cấp anh có thể nhảy dù xuống đó.
- Số 1, tôi nghe rõ, số 2 có nghe được FAC không?
- 2 chỉ nghe được số 1 mà không nghe được FAC. (forward air control).
- Sơn Ca 23 anh có nghe được số 2 của tôi không?
- Tôi nghe số 2 rõ 5/5.
-
Số 2 không nghe được anh, nhưng không sao, tôi sẽ rờ-leo. (Đây cũng là
một điểm son của khu trục Việt Nam, nếu hướng dẫn phi tuần Mỹ, hoặc
đồng-minh, một trong những chiếc của phi tuần không nghe được F.A.C. thì
họ không bao giờ chịu đánh).
Sau
khi số 1 nói xong, anh lặp lại cho số 2 những gì tôi đã thuyết cho anh,
có lẽ anh đã dùng bút mỡ viết lên kiếng, nên không sai một chi tiết
nào. Tôi nói tiếp:
- Tôi sẽ hold phía Nam, nơi nầy ghi nhận có nhiều phòng không, thường bắn rớt trực thăng tản thương.
Số 1 đáp:
- Nghe rõ, và anh lặp lại cho số 2, số 2 cũng đáp nghe rõ.
Tôi nói tiếp:
- Gió Đông Nam từ 10 đến 15, elevation khoảng 40 feet, phi trường giải tỏa gần nhất là Lai Khê, hiện giờ tôi đang bắn pháo binh.
- Roger!
Xong số 1 lặp lại cho số 2.
Tôi nhìn bên cánh phải thấy xa xa có 2 chiếc A1 đang bay tới. Tôi nói:
-
Phoenix 51, bạn gần tới mục tiêu rồi đó. Tôi đang ở hướng 11 giờ, thấp
của bạn. Để tôi bắn một tràng pháo binh nữa cho bạn thấy mục tiêu rồi
tôi cho chấm dứt tác xạ, mục tiêu đang ở hướng 12 giờ của bạn.
Tôi gọi pháo binh:
- Yếu tố cũ 20 quả, chấm dứt tác xạ. Trả lời.
Pháo binh trả lời:
- Yếu tố cũ 20 quả chấm dứt tác xạ. Hết.
Chắc đã nhìn thấy những quả pháo đang nổ, số 1 nói:
- Tôi thấy mục tiêu rồi, có phải chỗ pháo binh bắn nổ ở đường sắt đó không?
Tôi đáp:
-
Đúng rồi. Chổ đó là cây cầu bắt qua suối cạn, có mấy chiếc tăng vừa
trốn dưới đó. Bạn đánh ngay chỗ pháo binh nổ đi, có cần tôi bắn trái
khói không?
- Tôi thấy rõ, không cần rocket khói.
Tôi nói tiếp:
- Quân bạn nằm trên quốc lộ 13, hướng Bắc mục tiêu 1km, bạn có cần quân bạn thả khói màu không?
Anh đáp ngay:
- Không cần, số 2 chuẩn bị vào đội hình oanh kích, số 1 “in-hot”.
Số
1 đã vào trục tấn công. Tôi hồi hộp theo dõi, thấy anh bổ nhào xuống
quá thấp, thấp nữa… thấp nữa. Tôi thấy hai quả bom rơi. Tôi báo:
- Hai quả đã rơi. Mấy giây sau, “Ầm!”một phát, hai quả trúng ngay mục tiêu. Tôi khoái quá la lớn:
- Trúng rồi! số 2 vào đánh ngay bom số 1.
Số 2 sau khi nghe số 1 lập lại lời tôi “số 2 đánh ngay bom số 1”
Số 2 cũng báo:
- Số 2 “in-hot”.
Số
hai vào, cũng đánh rất thấp như số một, nhưng hai quả bom dài hơn
khoảng 100m. Nơi hai quả bom của số 2 nổ, là một khoảnh rừng cao su,
chắc cũng có nhiều Việt cộng chết trong ấy. Tôi gọi:
- Số 1, đánh ngay hai quả trước của anh.
Hai quả sau của số 1 cũng rơi rất chính xác. Vì muốn hủy diệt hoàn toàn mấy chiếc tăng, tôi thét lên:
- Số 2, đánh ngay bom vừa nổ.
Số 1 lặp lại công điện cho số 2.
Số 2 vào lần nầy đánh trúng ngay bom số 1. Thật hết xẩy! Tôi la lớn:
- Số 2, number one!
Số
2 vừa kéo lên break trái, một làn khói trắng dài bay phụt lên, đầu làn
khói ấy là một chấm đen, đang quẹo vòng lại đuổi theo phi cơ số 2. Tôi
thét lớn:
- SA7! Số 2 nhảy dù! Số 2 nhảy dù mau!
Không
kịp rồi, làn khói đã tới phi cơ anh rồi, tôi nghe đùng một tiếng thật
lớn giữa không trung. Phi cơ anh đã bốc cháy, nhưng đang còn bay lên,
tôi thấy một vật đen bay ra khỏi phi cơ, may quá! Anh đã nhảy dù ra được
rồi. Số 1 gọi hỏi tôi:
- Sơn Ca, anh thấy số 2 có nhảy dù được không?
- Nhảy dù được rồi tôi đang theo dõi…
Tôi gọi ngay cánh quân bạn phía Bắc:
- Phi cơ bị bắn cháy. Phi công đã nhảy dù. Nhờ bạn tìm cứu đem về giùm.
Quân bạn đáp:
- Chúng tôi nghe rõ.
Tôi
theo dỏi mãi, không thấy dù bung ra, số 1 cũng đang theo dõi, chắc anh
cũng không thấy dù bung ra như tôi, nhưng anh còn vớt vát hòi tôi:
- Sơn Ca có thấy dù mở ra không?
Tôi hoàn toàn thất vọng đáp:
- Không thấy.
- Bây giờ tôi còn bốn quả, đánh ở đâu?
Tôi đang lo điều động quân bạn tìm số 2, lòng dạ nào còn muốn đánh nữa, tôi nói:
- Ngay hai quả bom đầu của số 2, anh salvo hết đi. Việt cộng từ đám rừng đó bắn phi cơ đấy.
Số 1 đánh xong, còn làm đúng thủ tục oanh kích, gọi tôi:
- Sơn Ca, anh cho biết kết quả?
- Phá hủy hai chiếc tăng, tiêu diệt nhân mạng không rõ.
Bất chợt quân bạn gọi lên báo cáo với tôi:
- Chúng tôi đã tìm được xác phi công (may quá có lẻ anh rớt gần quân bạn), mang cấp bậc Đại úy, bảng tên là Hùng.
Tôi gọi hòi số 1:
- Có phải số 2 của anh là Đại úy Hùng không? Hùng nào vậy? (trong Không Quân ta, mỗi người còn có nickname đi kèm).
- Nó là HÙNG Sữa đó (thì ra nickname Hùng Sữa là Nguyễn-cao-Hùng khóa 65A) còn tôi là Nguyễn thế Qui.
Tôi hỏi ngay:
- Số 1 có phải Qui Lùn 65D không? Hèn chi đánh đâu trúng đó.
Anh nói:
- Đúng rồi. Còn ai bay bên đó? Xin anh cho tôi biết tên để tôi làm báo cáo.
Tôi
báo cáo tên họ, khóa 65F, phi đoàn 116 rõ ràng như lúc ở quân trường
trình diện niên trưởng, chỉ thiếu không đọc số quân. Không biết niên
trưởng Qui lúc đó có còn nhớ mặt thằng khóa đàn em nầy không? chứ tôi
thì tôi biết anh rất rõ, vì anh cùng khóa với thằng bạn nối khố của tôi
là Ấm Sứt Vòi. Anh hơi thấp người (chớ không đến đổi Lùn như nickname),
đẹp trai, hiền lành, (vì ít phạt đàn em). Anh thấp người nhưng tài cao.
Anh là một trong những chiền sĩ xuất sắc nhất của Không Quân. Khi còn
mang cấp bậc Trung úy anh đã là Phi tuần trưởng khu trục rồi. Lúc phi
đoàn 520 và 526 ở Cần Thơ đi Mỹ học A37, Qui thường xuyên dẫn biệt đội
khu trục xuống Cần Thơ để yễm trợ cho vùng Bốn. Tôi đã nhiều lần hướng
dẫn anh đánh, nên biết anh đánh rất chính xác, có những lần phải đánh
tiếp cận, (ta và địch sát bên nhau) tôi đã gọi toán quân đầu đội nón sắt
hai lớp, tôi điều chĩnh cho Qui đánh bom nổ cách quân bạn chỉ 50m, làm
cho Ngô minh Trải bay với tôi sợ xanh mặt.
Qui
gọi tôi nhờ theo dõi xác số 2 đem về đâu, anh báo anh đã gần hết xăng
anh phải rời vùng. Mới đây thôi, cùng cất cánh hai chiếc. Bây giờ bay về
chỉ một mình, chắc Qui thấy xót xa, buồn bã biết chừng nào! Phi tuần
thứ hai đã đến. Máu nóng nỗi lên, tôi đánh tan nát đám rừng cao su ấy.
Tiếp theo, tôi còn dập hàng ngàn quả pháo binh vào chung quanh đó, để
trả thù cho Hùng. Bắn mãi đến lúc Thành báo:
- Gần hết xăng mình về Mộc Hóa đáp lấy xăng.
Tôi
O.K., nhưng trên đường về, tôi vẫn còn điều chĩnh pháo binh dội tiếp,
tôi gọi bắn sang trái, sang phải, dài, ngắn, mỗi lần chỉnh 50m, (vì quân
bạn ở xa, nên không sợ bắn vào quân bạn), tôi bắn như thế cho đến khi
gần đáp xuống Mộc Hóa tôi mới chấm dứt tác xạ. Tôi hỏi thăm xác của
Hùng, quân bạn cho biết đã khiêng anh về tiền cứ của Tiểu đoàn.
Hùng
chết vì lý do cánh dù không bung ra được, không biết vì lỗi kỹ thuật
hay vì dù đã bị cháy? Nếu Hùng nghe được tôi, nhảy dù liền may ra còn
kịp. Nhưng vì máy vô tuyến của anh không nghe được tôi, phải chờ Qui
chuyển công điện, nên chậm mất mấy giây chăng? Nếu như hôm ấy tôi ngủ
đi, hoa tiêu bay luôn về Cần Thơ, thì Hùng sẽ không phải hy sinh. Hoặc
khi tôi phát hiện xe tăng, chỉ báo cho Bộ chỉ huy hành quân rồi bay đi
luôn vì đã hết nhiệm vụ, chuyện đau buồn đó sẽ không xảy ra. Ôi! Cũng vì
cái tánh “cà xóc”của tôi mà Không Quân ta mất đi một chiến hữu, gia
đình anh mất đi một người con (cũng may anh chưa lập gia đình) Tổ Quốc
mất đi một anh hùng.
Tôi
hối hận tại sao tôi đã ở lại, thi hành tích cực một phi vụ không phải
của mình, dù có đánh diệt được hai chiếc tăng đó thì VC cũng sẽ được chi
viện thêm 20 chiếc, 200 chiếc khác thay thế. Còn Cộng Sản Bắc Việt đánh
đến bao giờ cho hết, vì trong đoàn thanh niên Cộng sản H.C.M, những mái
đầu xanh mới 14, 15 tuổi đã được khích động tình nguyện vào Nam “chống
Mỹ cứu nước rồi”. Những oan hồn uổng tử ấy, chết đói trên đường mòn
Trường Sơn, chết thảm trong rừng sâu nước độc. Giờ đây những oan hồn ấy,
chắc uất hận lắm, khi thấy bọn người xúi giục họ đi chiến đấu chết thay
con cái chúng, giờ đang sống huy hoàng sung sướng ở VN, cá độ đá banh
hằng triệu đô la, tài sản nhà đất phải tính hằng triệu, hằng tỷ Mỹ kim.
Con cháu cán bộ cao cấp đi du học ngoại quốc tiêu xài sang hơn cả các
tiểu vương dầu hỏa. Ngẫm lại, chỉ có những người lính là thiệt thòi, bên
nầy cũng như bên kia, chúng ta đều bị ngoại bang giật giây cho lãnh
đạo, lãnh đạo đã lợi dụng xương máu của chúng ta…
Cách
đây không lâu, Âm Sứt Vòi cho tôi biết số điện thoại của Qui ở Hawai,
tôi gọi thăm anh, anh rất mừng. Hai đứa chúng tôi ôn lại chuyện cũ mà
nhớ thương Nguyễn cao Hùng, hai đứa đều sụt sùi. Qui kể cho tôi biết,
lúc đi du học ở Mỹ, Hùng đã từng can đảm nhảy xuống biển để cứu một em
bé Mỹ sắp chết đuối ở Florida. Anh được cả Thành phố vinh danh và trao
tặng anh Nhân Dũng Bội Tinh.
Qui
kể tiếp, vào ngày Hùng chết, Qui đang dẫn biệt đội biệt phái Sài Gòn.
Hôm đó là ngày 20 tháng 5 năm 1972. Phi tuần Phoenix 51 do Qui bay số 1
và Thống (66A) bay số 2, đang túc trực chờ bay. Chợt Qui thấy Hùng vào,
Qui mới hỏi:
- Mầy đang nghỉ phép vào đây làm gì Hùng?
Hùng đáp:
- Ở nhà buồn quá, nhớ tụi bây, muốn vào bay với mầy hôm nay.
Qui đáp:
- Được, vậy để gọi kỹ thuật chuẩn bị một chiếc nữa, Thống bay số 2, mầy bay số 3.
Thống chợt lên tiếng:
- Anh Qui, để anh Hùng bay thế tôi đi. Hôm nay tôi cũng có chút việc nhà.
Qui đáp:
- Cũng được. Thôi Thống về đi. Hùng, mầy đi ăn với tao, có lẽ mình cũng sắp đi bay rồi đó.
Hùng từ chối:
- Mầy đi ăn đi, hôm nay lễ Phật Đản, tao ăn chay, mầy mua cho tao gói xôi bắp được rồi.
Qui lặp lại nguyên văn mẫu đối thoại sau cùng với người bạn xấu số.
Ngay
buổi chiều sau ngày Hùng mất, Qui được báo, có phi cơ vừa chở xác một
pilot khu trục về, Qui vội chạy đến kéo fermeture (zipper) của bọc nylon
dựng xác để nhìn mặt Hùng. Nhưng không phải là xác của Hùng, mà là xác
của anh hùng Phạm văn Thặng (Thặng Fulro), từ Pleiku chở về. Qui đứng
lặng người. Lại thêm một đàn anh đáng kính của ngành khu trục đã ra đi
lúc nào mà Qui không hay biết. (Tôi xin mở dấu ngoặc ở đây kể chuyện về
anh Thặng; Phi cơ của Trung- tá Thặng bị bắn cháy khi còn mang nhiều bom
đạn trên cánh, nếu anh bỏ phi cơ nhảy dù phi cơ sẽ rớt xuống, bom sẽ nổ
tại khu đông người, không biết bao nhiêu người vô tội sẽ chết, anh nhất
định không chịu nhảy dù theo lời kêu gọi của phi tuần viên, anh cố gắng
bay xa thành phố, một mình đáp khẩn cấp với chiếc phi cơ đầy bom, có lẽ
trên Bảng Phong Thần đã có tên anh là:THẦN NHÂN ÁI- vị Phúc Thần xã
thân mình cứu người).
Chuyện bên lề
Sau
khi mang xác Hùng về Tiểu đoàn ấy, thuộc Sư Đoàn 21 bộ binh, ngày hôm
sau, bốn trực thăng võ trang, yễm trợ cho một chiếc tản thương đáp khẩn
cấp xuống để bốc xác Hùng về, trực thăng vừa đáp xuống thì thương binh
đã ào lên đầy phi cơ, đạn VC pháo vào tới tấp, trực thăng phải bay về,
không chở được xác Hùng mà chở được 14 thương binh về. Buổi chiều lại
cũng như thế.
Qua
ngày hôm sau phi cơ vừa đáp có lẽ VC đã sẳn sàng hỏa tập, nên chúng
pháo tưng bừng, lại cũng chở được một số thương binh về. Thương binh
nặng tại sao lại tranh được lên phi cơ? Bộ Chỉ Huy Hành Quân nhận xét,
rõ ràng có tổ chức hẳn hoi. Thì ra Tiểu đoàn trưởng xin tản thương không
được, không cho đem xác Hùng ra sẳn ở bãi đáp như lịnh trên, mà chỉ
khiêng thương binh của ông ra chờ sẳn, trực thăng đáp xuống là thương
binh được đồng đội mạnh khỏe đẩy lên cho đầy phi cơ. Liên tục ba, bốn
ngày như thế, Tướng Tư Lệnh Hành Quân nhận một chỉ thị trực tiếp từ Tổng
Thống Phủ:
- Bằng mọi giá phải đem được xác viên phi công ấy về ngay ngày hôm nay!
Tướng Tư Lệnh thét xuống Đại Tá Trung đoàn trưởng:
- Ngay ngày hôm nay, không đem được xác phi công ấy về, thì đích thân anh về trình diện tôi.
Đại tá thét xuống Tiểu đoàn trưởng:
- Ngay chuyến tản thương nầy, không đưa được xác phi công ấy về, mày cút đi đừng gặp mặt tao.
Vì
sao mà có những lệnh gắt gao như thế? Thì ra, thân phụ của Hùng là một
Thượng nghị sĩ danh tiếng, nằm trong một liên danh mà Tông Tông đang
gờm. Ông xin vào gặp và năn nỉ Tông Tông:
-
Đứa con yêu quý của chúng tôi đã hy sinh vì Tổ Quốc, xác đang nằm trong
tay quân bạn, thế mà không được đem về chôn cất, hỏi còn ai dám hy sinh
chiến đấu nữa?
Tông
Tông phần thì thông cảm cho gia đình; phần thì rất gờm ông thượng nghị
sĩ, nên mới ra lệnh khẩn cấp như thế. Nhưng lệnh là lệnh, vị Tiểu đoàn
trưởng không vì lệnh mà nhẩn tâm đứng nhìn những đứa em bị thương rên la
thảm thiết, nếu không tản thương là chết, nên ông bình tỉnh cho tản hết
những thương binh nặng của ông về. Đã một tuần qua đi. Tướng Tư Lệnh
giận quá, hằng ngày bị ở trên chửi xuống, ông bèn gọi gặp thẳng Tiểu
đoàn trưởng, ra lệnh vị nầy giao tiểu đoàn lại cho Tiểu đoàn phó, về Bộ
Tư Lệnh trình diện ngay lập tức. Đây là quân lệnh!
Ngay
chuyến tản thương ấy, Tiểu đoàn trưởng là Thiếu tá Đ., một Tiểu đoàn
trưởng lừng danh của Sét Miền Tây, biệt danh của Sư đoàn 21 BB, mà tôi
cũng đã từng quen biết anh. Anh về cùng một số thương binh nhẹ còn sót
lại và xác của Hùng, được để vào bọc nylon cẩn thận. Hai quân cảnh được
lệnh ra tận máy bay “hộ tống” Thiếu tá Đ. Vào gặp Tướng Tư Lệnh. Tóc anh
gần chấm đến vai, râu ria xồm xàm, mặt mũi hồc hác. Đó là hình ảnh của
những chiến sĩ ngày đêm đương đầu trực diện với địch quân ngoài trận
mạc. Không biết bao nhiêu lâu rồi anh chưa được tắm, có chăng là ngồi
nấp dưới hố hoặc giao thông hào ướt đẫm vào những lúc trời mưa.
Vào đến nơi, anh nghiêm chỉnh chào trình diện Tư Lệnh. Tư Lệnh vỗ bàn thét lớn:
- Anh muốn làm loạn hả? Kỷ luật Quân đội dạy anh như thế hả?
Dường như có chuẩn bị tinh thần sẳn, anh dõng dạc trả lời:
-
Thưa Tư Lệnh, tôi phạm kỷ luật Tư Lệnh cứ cho vào quân lao. Nhưng xin
Tư Lệnh cho tôi được trình bày. Cố Thiếu tá Không quân Hùng đã đền nợ
nước. Tôi kính trọng và cảm phục gương hy sinh anh dũng của ông ấy. Tôi
đã cho đem xác ông về hậu cứ chờ đưa về chôn cất. Nhưng dù sao đi nữa,
thì ông ấy cũng đã chết rồi. Còn em út tôi, bị thương nằm la liệt, không
tản thương được, lâu ngày có những đứa vì vậy mà chết. Dù ở cấp bậc nào
cũng là chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những người thương
binh nầy sau khi điều trị lành rồi, họ còn tiếp tục ra chiến đấu được
nữa, nên tôi phải cãi lịnh trên mà cho di tản họ về, còn người đã chết
như cố Thiếu tá Hùng, đem về dù sớm hay muộn gì cũng chỉ để chôn cất mà
thôi.
Thiếu tá Đ. ngừng lại một giây, đợi phản ứng của ông Tướng, rồi nói tiếp:
-
Mấy ông Không quân, bạn bè mấy ổng chết, bằng mọi giá mấy ông ấy cũng
liều mình đáp xuống lấy xác về, còn em út tôi bị thương, đáp xuống để
tản thương mà bị pháo kích hay bị phòng không bắn, là mấy ông ấy bốc máy
bay lên ngay, không chịu đáp. (Điều nầy, hắn nói oan cho Không quân
chúng ta quá, phải không quý anh trực thăng?)
Tướng Tư Lệnh hơi dịu giọng:
-
Anh đã biết “Kỷ luật là sức mạnh của Quân đội”. Lịnh là anh phải thi
hành. Thôi, anh hãy ra ngoài đi, việc của anh tôi sẽ có quyết định sau.
Có
lẽ Tướng suy nghĩ thương tình, nên sau nầy Tướng đã cho Thiếu tá Đ. về
làm Chi khu trưởng (tức Quận Trưởng) của một quận ở vùng Bốn Chiến
Thuật, chắc chắn anh thương dân cũng như đã thương lính của anh vậy.
Thay lời kết
Thưa
các bạn, chúng ta sinh ra cùng thời và trưởng thành cùng lúc với cuộc
chiến Việt-Nam ngày càng đi vào những giai đoạn ác liệt và tàn khốc
nhất. Chúng ta hầu hết phải rời bỏ mái gia đình êm ấm, phải rời bỏ mái
trường thân yêu, phải rời bỏ các phân khoa Đại Học đầy tươi sáng cho
tương lai, để cùng nhau vào quân ngũ, cùng học chung quân trường, cùng
khóa 65 Không quân. Trong chúng ta đã có quá nhiều bạn bè cùng khóa đã
hy sinh trên chiến trường, đã gởi phần thể xác mình cho miền Nam tự do,
ôi những người bạn thật hiền lành, thật tốt bụng, thật dễ thương đã trở
thành những anh hùng bất tử như: Trần thế Vinh, Phan quang Tuấn, Trương
công Thành, Trần quốc Trung, Vũ Tùng, Trưong đông Đình, Hoàng quốc Huấn,
Huỳnh Lô, Trần văn Bời… và… còn nhiều… nhiều lắm, không sao kể hết và
còn một người bạn nữa của chúng ta đang là anh hùng: Lý-Tống. (tức Lê
văn Tống 65A).
Nhưng
riêng cái chết của Nguyễn cao Hùng đã làm tôi ân hận mãi. Nhưng biết
đâu, với cái chết anh hùng ấy, anh được lên miền cực lạc. Biết đâu giờ
nầy anh đang sung sướng, chiều chiều ngồi vắt chân chữ ngũ nơi tiên
cảnh, nhắp rượu bồ đào, nhâm nhi mấy quả đào tiên, đêm trăng vào cung
Quảng xem Hằng Nga, cùng một bầy tiên nữ múa vũ khúc Nghê Thường. Nếu
anh còn sống thêm ba năm nữa đến ngày mất nước, phải vắt giò lên cổ bỏ
cả gia đình mà chạy, thoát được qua đây cũng phải đi cày hộc xì dầu để
sống. Còn không may mắn ở lại, phải chịu cảnh tù đày khổ sở, đói khát,
lao động khổ sai. Rẻ lắm cũng gở năm, bảy cuốn lịch. Một bên là anh chết
được lên miền cực lạc, một bên là anh sống trong địa ngục trần gian,
chắc là anh chọn cái chết. Bây giờ có lẽ anh không giận tôi, mà anh đang
cám ơn tôi, phải không Niên trưởng Hùng Sữa 65A?
Lê-văn-Sùng
Subscribe to:
Posts (Atom)


